Thành phần và cách dùng

Mạch đông 120g, lô căn 150g. Hai thứ rửa sạch, thái vụn, phơi hoặc sấy khô, trộn đều rồi đựng trong lọ kín dùng dần. Mỗi lần lấy 30g hãm với nước sôi trong bình kín, sau chừng 20 phút là có thể dùng được, uống thay trà trong ngày. Có thể chế thêm một chút đường phèn cho dễ uống.

Mạch đông có nhiều tên gọi như mạch môn đông, giai tiền thảo, lan tiên… và vì “kỳ diệp như phỉ, lăng đông bất điêu” (lá giống như lá hẹ, mùa đông vẫn xanh tốt) nên còn được gọi là nhẫn đông thảo, bất tử thảo. Thực ra, mạch đông không thể là vị thuốc thần diệu, nhưng sự thật thứ cây có rễ củ rất mềm, chứa nhiều nước, tính mát, vị ngọt này lại có công dụng khá đặc biệt: nhuận phế dưỡng âm, ích vị sinh tân, thanh tâm trừ phiền, thanh nhiệt giảm ho. Sách Bản thảo tân biên đã viết: “Mạch môn đông, tả phế trung chi phục hỏa, thanh vị trung chi nhiệt tà, bổ tâm khí chi lao thương, chỉ huyết gia chi ẩu thổ, ích tinh cường âm, giải phiền chỉ khát, mỹ nhan sắc, duyệt cơ phu, thoái hư nhiệt, giải phế táo, định khái thấu” (mạch đông có tác dụng làm hết hoả tà ẩn nấp trong phế, thanh trừ nhiệt tà trong vị, bổ tâm khí, cầm máu, chống nôn, ích tinh dưỡng âm, giải khát trừ phiền, làm cho da khỏe và đẹp, có lợi cho nhan sắc, trừ hư nhiệt, chữa phế táo và giảm ho). Thậm chí, ngay đến Tô Đông Pha, thi nhân trứ danh đời Bắc Tống (Trung Quốc) cũng đã tự chế và tự dùng cho mình một phương thuốc có tên là “Tô Thức mạch môn đông thang” và viết thơ ca tụng vị thuốc này: “Nhất chẩm thanh phong trị vạn tiền, vô nhân khẳng mãi bắc song miên, khai tâm noãn vị môn đông ẩm, tri thị Đông Pha thủ tự tiên”.

Trà dược mạch đông lô căn ẩmVị thuốc mạch đông, lô căn nhuận phế,thanh nhiệt sinh tân.

Theo dược học hiện đại, mạch đông chứa nhiều tinh dầu, glucoside và nhiều chất khác, trong đó đặc biệt có tới 28 nguyên tố vi lượng rất cần cho cơ thể. Kết quả nghiên cứu dược lý cho thấy: mạch đông có tác dụng kháng khuẩn, trấn tĩnh và chống co giật, tăng cường khả năng chịu đựng của cơ thể trong điều kiện thiếu ôxy, cải thiện sức co bóp cơ tim, bảo hộ tế bào cơ tim, nâng cao năng lực miễn dịch của cơ thể, điều hoà đường huyết và làm tăng sự vận chuyển thức ăn trong đường tiêu hóa.

Lô căn là rễ của cây lau, còn được gọi là vĩ căn, thuận giang long, lô đông căn, lô sài căn, lô thông… tính lạnh, vị ngọt, có công dụng thanh nhiệt sinh tân, trừ phiền chỉ ẩu, thường được dùng để chữa các chứng bệnh có sốt gây mất nước phiền khát, nôn do vị nhiệt, viêm hầu họng, viêm loét môi miệng, viêm quanh răng, viêm đường tiết niệu, hoàng đản, sỏi mật và các chứng viêm nhiệt khác. Theo kinh nghiệm của người xưa, trong mùa hè thu, dịch chiết lô căn có khả năng bổ sung lượng nước đã mất qua đường mồ hôi đồng thời còn kích thích tiêu hoá, tạo ra cảm giác thèm ăn. Nhà dược học vĩ đại Lý Thời Trân đã viết: “Ích thực gia xan, tu tiên lô phác” (muốn lợi cho tiêu hóa nên dùng lô căn, hậu phác). Nghiên cứu hiện đại cho thấy, lô căn có tác dụng giải nhiệt, trấn tĩnh và giảm đau. Theo kinh nghiệm của cổ nhân, lô căn thường được phối hợp với mạch đông hoặc ngọc trúc để làm tăng tác dụng thanh nhiệt sinh tân.

ThS. Hoàng Khánh Toàn

LEAVE A REPLY