Trong y học hiện đại, máu ngựa dùng để bào chế các loại huyết thanh kháng trực khuẩn mủ xanh và kháng tụ cầu trùng vàng điều trị các bệnh nhiễm trùng… Thịt ngựa, sữa ngựa có giá trị dinh dưỡng cao có tác dụng bổ máu, giải nhiệt. Gan ngựa luộc ăn chữa tứ chi đau buốt, tâm phiền, mệt mỏi, kinh nguyệt bất thường. Sỏi trong dạ dày và ruột ngựa khi dùng tán bột uống có tác dụng trấn kinh, tiêu đờm, giải độc. Phổi ngựa ngâm rượu chữa các bệnh về đường hô hấp…

Cách chế biến xương ngựa làm thuốc:

Xương ngựa cần làm sạch hết thịt, gân và mỡ, rửa sạch, tẩy nước gừng, rượu, chẻ ngắn, nhỏ, cho vào xoong, đổ nước ngập xương nấu liên tục trong 24 giờ (luôn giữ nước ngập xương). Lấy nước chiết lần thứ nhất lọc, cô riêng. Tiếp tục nấu để được hai nước chiết nữa. Dồn các nước chiết lại, cô nhỏ lửa và đánh đều đến khi được cao đặc. Đổ cao vào khuôn. Để nguội, cắt ra từng miếng, gói giấy bảo quản để ở nơi khô và mát.

Cách dùng xương ngựa làm thuốcCao xương ngựa bổ sung canxi phòng ngừa loãng xương.

Để làm thuốc: Thái cao thành miếng ăn trực tiếp hoặc trộn với cháo nóng.

Có thể trộn cao với mật ong hấp cách thủy. Liều dùng: Người lớn 5-10g/ngày; trẻ em 3-5g/ngày.

Hoặc dùng bài: Cao ngựa 100g ngâm với 1.000ml rượu 40 độ để càng lâu càng tốt, mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần 10ml (không dùng cho trẻ em).

Xương ngựa sau khi nấu cao có thể đem rửa sạch, phơi khô, nung xương ở lò than đang cháy đỏ trong 15 phút. Xương nung xong trở nên nhẹ, xốp, trắng như thạch cao, dễ vỡ. Cho xương đã nung vào máy xay hoặc cối giã rồi rây thành bột mịn. Đổ bột này vào nước sạch với tỷ lệ 0,5kg bột xương với 1.500ml nước. Đun sôi trong 1 giờ. Để nguội, gạn lấy bột đem phơi hoặc sấy khô. Rây mịn. Bảo quản, tránh ẩm mốc. Ngày uống 5-10g, có thể thêm đường cho dễ uống. Bột xương ngựa là thuốc bổ xương, mạnh gân cốt, chữa bệnh đường tiêu hóa, đau dạ dày, đại tiện lỏng.

 

ThS. Nguyễn Ngọc Lan

LEAVE A REPLY